09:45 ICT Thứ hai, 19/11/2018

Trang nhất » Nội dung » Tư liệu dạy học » Lịch sử Hóa học

MỘT SỐ CÁI NHẤT TRONG GIẢI NOBEL

Thứ năm - 24/04/2014 07:35
- Gia đình Nobel vĩ đại nhất - Các chàng rể đoạt Giải thưởng Nobel - Anh em cùng đoạt Giải thưởng Nobel - Cha và con, mẹ và con đều là những nhà khoa học kiệt xuất đoạt Giải thưởng Nobel - Các khoa học 2 lần đoạt Giải thưởng Nobel
MỘT SỐ CÁI NHẤT TRONG GIẢI NOBEL

MỘT SỐ CÁI NHẤT TRONG GIẢI NOBEL

Gia đình Nobel vĩ đại nhất

 
             Tính tổng cộng, đại gia đình ông bà Pierre Curie và Maria Sklodowska-Curie có tới 4 người được tặng 3 Giải thưởng Nobel về khoa học, riêng bà Maria Sklodowska-Curie hai lần đoạt Giải thưởng Nobel. Nhà vật lý người Pháp Pierre Curie, chuyên gia hàng đầu thế giới trong các lĩnh vực nghiên cứu về tinh thể học, từ trường, hiện tượng áp điện và vật lý nguyên tử. Ông là người có công lần đầu tiên phát hiện ra và đạt được kết quả trong nghiên cứu quan trọng về hiện tượng phóng xạ tự nhiên, khai sinh kỷ nguyên năng lượng nguyên tử. Với thành công này, năm 1903, ông cùng vợ là bà Maria Sklodowska-Curie, nhà khoa học người Pháp gốc Ba Lan, đã được nhận Giải thưởng Nobel về vật lý cùng với một nhà khoa học khác người Pháp, ông Henri Becquerel. Riêng bà Maria Sklodowska-Curie được tặng Giải thưởng Nobel lần thứ hai về hoá học vào năm 1911. Thật vinh dự, ba mươi hai năm sau, năm 1935, nữ bác học Irène, con gái của ông bà Pierre Curie và Maria Sklodowska-Curie, cùng với chồng là nhà khoa học Pháp Frédéric Joliot (con rể của ông bà Pierre Curie và Maria Sklodowska-Curie) đoạt Giải thưởng Nobel về hóa học.
             Được xếp sau gia đình ông bà Pierre Curie và Maria Sklodowska-Curie là gia đình nhà vật lý Karl Ferdinand và vợ là nhà khoa học Gerty Theresa. Ông Karl Ferdinand đoạt Giải thưởng Nobel về vật lý năm 1909, còn bà Gerty Theresa đoạt Giải thưởng Nobel về sinh học và y học năm 1947.
             Tiếp đến là gia đình nhà khoa học Gunnar Myrdal và vợ là nhà khoa học Alva Myrdal: ông Gunnar Myrdal đoạt Giải thưởng Nobel về kinh tế năm 1974, còn bà Alva Myrdal đoạt Giải thưởng Nobel về hòa bình năm 1982.
Các chàng rể đoạt Giải thưởng Nobel

 
            Ngoài bà Marie Curie, hai lần đoạt Giải thưởng Nobel, có con rể là Frédéric Joliot, đoạt Giải thưởng Nobel về hóa học năm 1935, còn có:
Heinrich Wieland, nhà hoá học người Đức, đoạt Giải thưởng Nobel hóa học vào năm 1927. Con rể của Heinrich Wieland là nhà khoa học Feodor Lynen, đoạt Giải thưởng Nobel về sinh học và y học năm 1964. Cũng trong năm 1964, một Giải thưởng khoa học danh giá mang tên Heinrich Wieland đã được thành lập để tặng thưởng cho những người có cống hiến xuất sắc trong lĩnh vực hoá học, sinh hoá, sinh lý học và y học.
            John Howars Northrop, nhà khoa học người Mỹ, tiến sỹ khoa học sinh hóa,  đoạt Giải thưởng Nobel về hóa học năm 1946 có con rể là nhà khoa học Frederic Chapman Robbins, đoạt Giải thưởng Nobel về sinh học và y học năm 1954. 
            Nhà khoa học Peyton Rous, đoạt Giải thưởng Nobel về sinh học và y học năm 1966, có con rể là Alan Hodgkin, cũng là một chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực y-sinh, đoạt Giải thưởng Nobel về sinh học và y học trước “ông nhạc” 3 năm (1963).
Anh em cùng đoạt Giải thưởng Nobel

 
              Jan Tinbergen, chuyên gia kinh tế người Đức, đoạt Giải thưởng Nobel về kinh tế năm 1969 vì đã có công xây dựng mô hình động để phân tích các quá trình kinh tế.
              Em trai của Jan Tinbergen là nhà khoa học y - sinh Nikolaas Tinberge cũng đoạt Giải thưởng Nobel sinh học và y học năm 1973 vì đã có công phát minh ra tổ chức và hành vi của cá nhân và cộng đồng động vật.
Cha và con, mẹ và con đều là những nhà khoa học kiệt xuất đoạt Giải thưởng Nobel:
              Ông Joseph Thomson, nhà vật lý người Anh, đoạt Giải thưởng Nobel về vật lý năm 1906 vì đã có công phát minh ra hạt điện tử. Ba mươi mốt năm sau, con trai ông là nhà khoa học George Paget Thomson, cũng đoạt Giải thưởng Nobel về vật lý năm 1937 vì đã có công phát minh ra tính chất sóng của điện tử.
             Nữ bác học Maria Sklodowska-Curie đoạt Giải thưởng Nobel về hóa học năm 1911, thì 24 năm sau, con gái của bà là Irène Curie, một nhà khoa học trẻ, đoạt Giải thưởng Nobel về hóa học năm 1935. Bà Maria Sklodowska-Curie đã đặt tên một nguyên tố hoá học mới do bà phát minh ra là “Pololium” để kỳ niệm tên gọi Tổ quốc của Bà là “Poland” (Ba Lan).
             Ông Niels Bohr, nhà vật lý người Đan Mạch, “cha đẻ” thuyết lượng tử và là người đề xuất mô hình hành tinh về cấu trúc của nguyên tử. Với cống hiến kiệt xuất này cho khoa học, ông được tặng Giải thưởng Nobel về vật lý năm 1922. 53 năm sau, vào năm 1975, con trai ông là nhà khoa học Aage Bohr cũng được trao Giải thưởng Nobel về vật lý vì đã có công mô tả quy luật lượng tử của các nucleon trong hạt nhân nguyên tử.
             Giáo sư tiến sỹ vật lý Manne Siegbahn đoạt Giải thưởng Nobel về vật lý năm 1924 vì những phát minh trong lĩnh vực quang phổ tia X-quang, thì tới năm 1981, con trai ông là nhà khoa học Kai Siegbahn đoạt Giải thưởng Nobel về vật lý vì đã có công sử dụng quang phổ tia X để phân tích cấu trúc của vật chất.
             Năm 1929, nhà khoa học Hans von Euler-Chelpin đoạt Giải thưởng Nobel về hóa học vì đã có công tìm ra các hiện tượng liên quan tới quá trình lên men của đường và các enzyms gây men. Sau đó 41 năm, vào năm 1970, con trai ông là nhà khoa học Ulf von Euler cũng đoạt Giải thưởng Nobel về sinh học và y học.
            Giáo sư tiến sỹ sinh hoá người Mỹ Arthur Kornberg đoạt Giải thưởng Nobel y học năm 1959 vì đã có công phát hiện cơ chế tổng hợp sinh học của axit DNA.
            Đến năm 2006, con trai ông là nhà khoa học Roger Kornberg cũng được trao Giải thưởng Nobel về hóa học vì đã tìm ra cơ chế phân tử của quá trình tổng hợp chất trong tế bào.
Đặc biệt nhất là nhà vật lý William Henry Bragg và con là nhà khoa học William Lawrence Bragg cùng đoạt và chia nhau Giải thưởng Nobel về vật lý năm 1915 vì đã có công nghiên cứu phương pháp sử dụng phổ X-quang để phân tích cấu trúc tinh thế. 
Các khoa học 2 lần đoạt Giải thưởng Nobel

 
            Bà Marie Curie đoạt Giải thưởng Nobel lần thứ nhất về vật lý năm 1903 cùng với chồng là nhà khoa học Pháp Pierre Curie. Lần thứ hai, bà cùng với nhà khoa học Pháp H. Becquerel đoạt Giải thưởng Nobel về hóa học năm 1911.
            Ông Linus Pauling, nhà hoá học Mỹ,  nhà giáo dục, người tích cực đấu tranh cho hoà bình và hoạt động xã hội. Với những thành tựu đã đạt được, ông được tặng Giải thưởng Nobel về hóa học năm 1954 và Giải thưởng Nobel về hòa bình năm 1962. 
           Giáo sư tiến sỹ John Bardeen, đoạt Giải thưởng Nobel về vật lý năm 1956,  cùng với W. H. Brattain và W. Shokley vì đã có công hoàn thành một trong những phát minh vĩ đại nhất trong thế kỷ XX: tranzistor, mở đầu kỷ nguyên công nghệ vi điện tử và máy tính. Lần thứ hai, John Bardeen đoạt Giải thưởng Nobel về vật lý năm 1972 cùng với L. Cooper và J. R. Schrieffer vì đã có công phát minh trong lĩnh vực chất siêu dẫn điện.
            Ông Frederic Sanger, nhà sinh hóa người Anh, đoạt Giải thưởng Nobel về hóa học năm 1958 vì đã có các phát minh mang tính đột phá trong lĩnh vực hoá học. Lần thứ hai ông được trao Giải thưởng Nobel cũng về hóa học năm 1980 cùng với nhà khoa học W. Gilbert vì đã có công phát minh ra phương pháp mới để xác định cấu trúc DNA.

* Cuộc tranh cãi khí clo là một đơn chất

 
             Scheele là một tín đồ trung thành của thuyết nhiên tố, ông đã giả thiết rằng khí mà ông thu được là axit clohidric bị mất nhiên tố. Vì ông đã nhiên tố và hidrô như nhau cho nên như thế có nghĩa là clo là một đơn chất. Tuy nhiên kết luận hoàn toàn logic và đúng đắn của ông về bản chất của khí mới tìm thấy không được các nhà bác học khác, trước hết là những người có tín nhiệm lớn hồi bấy giờ như Berzelius và Lavoisier chấp nhận. Lúc bấy giờ, nhiều nhà khoa học Pháp rất chú ý đến ý kiến của Lavoisier, theo đó, một axit luôn có chứa oxi. Berzeslius cũng tán thành những quan điểm của Lavoisier. Vì vậy mà ông xem axit axit muriatic (tên cũ của axit clohidric) là một hợp chất của nguyên tố giả định muatilia với oxi. Và ông xem clo sinh ra do mangan dioxit tác dụng lên axit clohidric như là axit muriatic bị oxi hóa.
             Lavoisier và Berzeslius có uy tín rất lớn trong giới khoa học nên một số nhà bác học như Gay Lussaw và Thénard cũng tán đồng những quan điểm sai lầm, mơ hồ và mâu thuẫn với những sự kiện thực nghiệm của họ.
            Năm 1809, trong bản “Báo cáo khoa học Arcueil”, Gay- Lussac và Thénard đã kết luận rằng “Khí muriatic có oxi không phân tích được bằng than, theo điều này và những điều trình bày trong báo cáo, người ta có thể giả định rằng khí này là một đơn chất, những hiện tượng mà nó thể hiện được giải thích khá rõ ràng trong giả thuyết. Tuy vậy, chúng tôi không hề tìm cách bảo vệ nó, bởi vì đối với
chúng tôi, khi nhìn nhận axit muriatic có oxi như là một hợp chất thì những hiện tượng đó càng được giải thích rõ hơn.”
             Như vậy, có thể thấy rằng Gay- Lussac không nhất quán khi công bố khí muriatic là một đơn chất vì tôn trọng giả thuyết của Lavoisier.
             Đến năm 1810, nhà bác học Anh Davy chứng minh chất khí mới đó là một đơn chất, không chứa oxi. Ông đã tiến hành rất nhiều thí nghiệm khác nhau về những tính chất của axit muriatic nhưng dù với điều kiện nào của thí nghiệm, ông cũng không thu được nước hoặc không tách được oxi. Ông đốt than, lưu huỳnh và các kim loại trong khí quyển của axit muriatic nhưng cũng không thu được những hợp chất chứa oxi. Từ những thí nghiệm đáng tin cậy đó, Davy đã đi đến kết luận rằng không có chất muarilia giả định nào cả và chất axit muriatic phải được xem là một đơn chất không bị phân chia. Ông gọi nguyên tố mới này là chlorine (theo tiếng Hy Lạp”chloros” có nghĩa là màu vàng lục), danh từ này ngày nay vẫn còn được dùng trong ngôn ngữ hoá học Anh. Còn danh từ clo trong tiếng Đức và Nga mà Gay-Lussac đưa ra là do chữ Latinh chlorum có nghĩa là màu lục. Năm 1881, nhà bác học người Đức I. Shweiger đề nghị gọi clo là halogen, nghĩa là “tạo muối”, và gọi các clorua kim loại là haloit, nghĩa là giống muối. Ngày nay người ta cũng dùng cả hai danh từ này.
             Chứng minh mới này của Davy đã tác động đến nhiều nhà khoa học.
            Sau khi iot được tìm ra, thuyết oxi sinh ra axit bị sụp đổ hoàn toàn và họ mới thừa nhận là Davy đúng.
            Những thí nghiệm của Davy và những kết luận rút ra từ thí nghiệm đó làm cho mọi người tin tưởng và dần dần các nhà bác học khác cũng đồng ý với ông như Bertholet (1881), Gay- Lussac và Thénard (1813), và ít lâu sau là Berzelius. Vôle đã nghiên cứu trong phòng thí nghiệm của ông trong một thời gian dài và đã kể lại trong hồi ký việc ông từ bỏ những quan điểm cũ kỹ về bản chất của clo như sau: “Berzelius đã quan tâm nhiều đến việc nghiên cứu axit xianhidric mà tôi cũng đương nghiên cứu lại. Ông vui lòng cho những nhận xét về những thí nghiệm mà tôi đã tiến hành với axit đó, nhận xét này được đăng trong “Jahresbericht” và đã nói với với tôi rằng sự tồn tại của axit này sẽ giúp cho học thuyết về clo thêm chính xác. Tôi rất lấy làm ngạc nhiên là ông đã dùng danh từ clo chứ không phải axit muriatic bị oxi hoá và từ trước đến nay ông là một tín đồ trung thành của quan điểm cũ kĩ. Có một hôm, bà Anna nhận thấy các bát đĩa có mùi axit oximuriatic và Berzelius đã nói: “Anna, bà không nên gọi là axit oximuriatic nữa, hãy gọi là clo, như thế đúng hơn” ”.

* Napoléon - Khởi nguồn gián tiếp cho sự tìm ra iot

 
              Đầu thế kỉ XIX, Hoàng đế nước Pháp Napoléon đẩy mạnh cuộc chiến tranh ở châu ở châu Âu với tham vọng bành trướng lãnh thổ. Vì thế, nhu cầu thuốc súng đen tăng lên nhanh chóng.
             Để sản xuất thuốc súng đen, người ta trộn lưu huỳnh và diêm tiêu lấy ở Ấn Độ (diêm tiêu kali KNO3). Nguồn diêm tiêu ở Ấn Độ ngày càng cạn dần khi chiến tranh lan rộng. Người ta tìm đến mỏ diêm tiêu ở sa mạc Attakama (Chilê-Nam Mỹ) - là diêm tiêu natri NaNO3. Nhược điểm lớn nhất của diêm tiêu natri là dễ hút ẩm, khó bảo quản, gây khó khăn cho các trận chiến ác liệt. Vì thế, vấn đề đặt ra là biến diêm tiêu Chilê (NaNO3) thành diêm tiêu Ấn Độ (KNO3). Nguồn kali duy nhất hồi đó chỉ lấy từ tro thực vật. Người ta điều chế được muối đó bằng nước rửa tro thực vật. Ở Nga người ta đốt gỗ để có một lượng lớn chất đó. Ở những nước ít rừng thì người ta lấy rong biển đem phơi khô, rồi đốt và thu được K2CO3. Cả thế giới hồi đó chưa phát hiện ra mỏ muối kali nào.
              Năm 1809, một nhà hóa học Tây Ban Nha thành công trong việc chế hoá diêm tiêu Chilê với nước tro rong tảo để được diêm tiêu Ấn Độ. Một số đông người tập trung vào việc sản xuất diêm tiêu kali.
 

Nguồn tin: Khoá luận tốt nghiệp SV khoa Hóa ĐHSP Huế

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin cũ hơn

 

Giới thiệu

Giới thiệu về tác giả

Trang web là sản phẩm của Giảng viên Đặng Thị Thuận An- Khoa Hóa- Trường ĐHSP Huế- Đại học Huế. Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Hóa học...








Flikr Thuận An
Demhue

Đăng nhập thành viên

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 19


Hôm nayHôm nay : 1009

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 18608

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 1262638

Khoa Hoa